• Đẹp - Độc - Lạ

Chữ hiếu với Ca dao Việt Nam

Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Hiếu được xem như một thứ tình cảm thiêng liêng và cao đẹp nhất trong các thứ tình cảm của loài người. Hiếu là chất liệu cho cuộc sống, là hương thơm cho đời, là hành trang vô giá và không thể thiếu vắng ở bất kỳ người nào. Hiếu phản ánh đời sống văn hóa và đạo đức của xã hội. Hiếu phân định nhân cách, tri thức của con người. Hiếu là chất liệu sống muôn thuở. Nói đến hiếu là nói đến cái gì cao đẹp nhất, thiêng liêng nhất đối với mọi người.

Mỗi xã hội, mỗi tôn giáo, mỗi chủ nghĩa đều có quan niệm khác nhau về đạo đức, nhưng cùng đề cao giá trị văn hóa, đạo đức của hiếu đạo là tuyệt vời. Ðể giới hạn phạm vi bài viết, người viết xin trình bày chữ hiếu qua Ca dao Việt Nam, những lời ca dân gian của một dân tộc thấm nhuần tình cảm hiếu nghĩa, và chữ hiếu trong kinh điển Phật giáo, một tôn giáo dạy về chữ hiếu nhiều nhất, đầy đủ nhất và đặc biệt nhất trong các tôn giáo của nhân loại.

Đại lễ Vu lan báo hiếu tại Chùa Thiên Long - Công viên nghĩa trang Thiên Đức - Ảnh tháng 7/2016

Chữ hiếu qua Ca dao Việt Nam

Trong ca dao Việt Nam, chữ hiếu đóng một vai trò quan trọng và nền tảng về đạo đức và luân lý xã hội. Nó góp phần giáo dục, xây dựng một xã hội bình ổn và hạnh phúc. Trước nhất và quan trọng hơn hết, ca dao nhấn mạnh đến công ơn trời biển và công đức sâu dày của cha mẹ, một thứ công ơn khó mà diễn tả cho cùng:

 

Anh ơi, em bảo anh này
Công cha nghĩa mẹ cao dày chớ quên!

 

Với sự diễn tả xác đáng hơn, ca dao Việt Nam khẳng định

 

Công cha nhơ núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Ca dao Việt Nam đã diễn tả tình cha mẹ rất chính xác. Cha thương con nhưng cứng rắn, nghiêm nghị nên được ví với sự sừng sửng của núi Thái, một ngọn núi to lớn và cao vĩ. Mẹ thương con ngọt lịm dịu dàng nên được sánh ví với suối nguồn chảy tuông êm ả, nhẹ nhàng, bất tận. Ca dao Việt Nam còn nhấn mạnh đến nỗi cực nhọc chín tháng cưu mang, ba năm bồng ẳm của người mẹ:

Nhớ ơn chín chữ cù lao
Ba năm nhủ bộ biết bao nhiêu tình.

 

 

Nghĩa cha sanh cùng công mẹ dưỡng
Thì ngày đêm tư tưởng chớ khuây
Hai công đức ấy nặng thay
Xem bằng bể rộng, xem bằng trời cao
Kể từ lúc hãy còn thai dựng
Ðến những khi nuôi nấng giữ gìn
Nặng nề chín tháng cưu mang
Công sinh bằng vượt biển sang nước người.

 

Ơn hoài thai to như bể
Công dưỡng dục lớn tợ non

 

 

 

Ðội ơn chín chữ cù lao
Sanh thành kể mấy non cao cho vừa.

 

Công cha nghĩa mẹ cao dày
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Trưởng thành con phải biết thờ song thân

 

Công cha nghĩa mẹ cao vời
Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta
Nên người ta phải xót xa
Ðáp đền nghĩa nặng như là trời cao!

 

 

 

Ngoài ra, ca dao còn diễn tả sự hy sinh của mẹ cho con cái là vô cùng:

Nuôi con chẳng quản chi thân
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn
Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn
Lên non xắn đá xây lăng phụng thờ.

 

Ðặc biệt ca dao còn xác quyết công lao cao dày của cha mẹ là một sự thật, một thực thể tình người, mà những ai đã, đang và sẽ có con cái sẽ cảm nhận chính xác nhất:

Có con mới rõ sự tình
Xưa kia thầy mẹ thương mình thế nao.

Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

Nuôi con mới biết lòng cha mẹ
Thấy loạn thì hay thuở Thuấn Nghiêu.

 

Chính vì công lao sâu dày của cha mẹ là không cùng, ca dao Việt Nam khẳng định vị trí của cha mẹ là vô song, không có gì có thể sánh bằng. Một khi cha mẹ mất, con cái phải chật vật, đau khổ và dường như mất cả ý nghĩa của cuộc đời:

Còn cha gót đỏ như son
Mai sau cha mất, gót con lấm bùn

Còn cha còn mẹ thì hơn
Mất cha mất mẹ như đờn đứt dây.

Trong các thứ tình cảm, ca dao khẳng định tình cảm giữa mẹ con và con cái là cao quý nhất, vượt hơn tình yêu đôi lứa:

Cha mẹ già thật đã khó tìm
Ðạo vợ chồng chẳng hiếm chi nơi.

 

Chính vì thế, còn có nỗi đau nào hơn nỗi đau khi cha mẹ mất!

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ cha nhớ mẹ chín chiều ruột đau
Chiều chiều ra đứng ngỏ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau như dần.

Hay tình cảm đối với cha mẹ còn sống nhưng trong cảnh chia cách:

Gió thúc cội thung nhánh tùng khua rúc rắc
Nhớ cha mẹ già ruột thắc gan teo.

Ca dao còn sánh ví cha mẹ như Phật, mà theo kinh điển Phật là đấng cao quý nhất trong ba cõi, là thầy của chư thiên và loài người. Nghĩa là ca dao đã trân trọng đặt cha mẹ lên vị trí tôn quý nhất trong tam giới:

Gió đưa cành trúc la đà
Cha mẹ còn sống Phật đà hiện thân.

Do sự tôn kính đó, ca dao đã dạy trước phải kính dưỡng đức Phật-Cha mẹ trong nhà rồi sau mới kính dưỡng đức Phật ngoài đồng. Trên cơ sở này, ca dao có quan điểm rằng sự đi tu với hình thức "cắt ái từ thân, xuất ly gia đình" không còn là điều tiên quyết:

Tu đâu cho bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ cũng là chân tu.

 

 

Lên chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu sao đành.

Tình cảm hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ đã trở nên một thứ tình cảm gắn bó. Ca dao đã ví cha mẹ như chuối chín cây, như xôi nếp ngọt, như đường mía lao, để làm ngọt lịm cuộc đời và sự sống của con:

Mẹ già như chuối chín cây
Gió đưa mẹ rụng con rày mồ côi.

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.

Và do vậy, phận làm con phải luôn kính cha thương mẹ:

Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha.

 

Tuy nhiên ca dao cũng tích cực lên án những hạng người con bất hiếu, bỏ quên công ơn sanh thành dưỡng dục lao khổ của cha mẹ, trở lại tính tháng đếm ngày với cha mẹ, khi phải nuôi nấng cha mẹ:

Mẹ nuôi con bằng non bằng bể
Con nuôi mẹ con kể từng ngày

Mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi mẹ tính tháng tính ngày.

 

Dĩ nhiên những hạng người vô ân bất hiếu như vậy sẽ không nhớ đến sự khó nhọc và lao khổ của cha mẹ:

Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chày mẹ thức đủ trọn năm.

 

 

Mặt khác, ca dao cũng không quên nhắc đến những trang nam tử, những thiện nữ nhân thành tâm hiếu dưỡng cha mẹ hết lòng, sớm thăm tối viếng:

Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.

Ca dao cũng khen ngợi những người con có hiếu thảo, tảo tần chịu gian khó, hiếu dưỡng cha mẹ từng cái ăn cái uống, cho thỏa dạ chân tình:

Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

Hay tình cảm thống thiết của người con chẳng quản giàu nghèo, dưỡng nuôi cha mẹ, bằng tất cả những gì có được, dù phẩm vật ấy có thô sơ, đam bạc:

Dây bầu dây mướp cùng leo
Sớm nuôi cha mẹ nghèo giàu sá chi.

Hoặc cảnh con cái chăm sóc cha mẹ một cách chu đáo cả đêm lẫn ngày: khi cháo cơm, khi đau yếu và ngay cả những khi ra vào gặp tôn nhan của mẹ:

Cù lao đội đức cao dày
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng
Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc
Xem cháo cơm thay thế mọi bề
Ra vào thăm hỏi từng khi
Người đà vô sự ta thì an tâm
.

                                                 (Nguyễn Trãi, Gia Huấn Ca)

 

 

Ca dao Việt Nam còn tin vào nghiệp báo luân hồi, tin vào sự tái sanh, vào kiếp sống đời sau, tin vào những thiện nhân phước báo mà con cháu làm để hồi hướng cho cha mẹ là có tác hưởng thật sự. Chính hiếu hạnh đó đã cảm hóa tâm tính cha mẹ và cộng với phước báu của con cháu đã tạo mà cha mẹ được nhẹ nhàng lúc mất, và sanh về thế giới an lành, hạnh phúc hơn. Như vậy, ca dao cũng đã chịu ảnh hưởng tinh thần hiếu thảo trong kinh điển Phật giáo:

Ðêm nằm niệm Phật Thích-ca
Cầu cho cha mẹ kết hoa liên đài
Về cảnh Phật thấy hoa khai
Trầm luân chấm dứt, đáo lai Niết-bàn.

Ðồng thời ca dao còn tin vào quy luật nhân quả, ở đây là nhân hiếu quả hiếu, nhân bất hiếu thì quả bất hiếu. Ðây chính là bài học thiết thực và có giá trị về chữ hiếu mà người Việt Nam đã sống và thực hiện từ bao đời nay:

Nếu mình hiếu với mẹ cha
Thì con cũng hiếu với ta khác gì
Nếu mình ăn ở vô nghì
Ðừng mong con hiếu làm gì hoài công.

Phật Ngọc Hòa Bình tại Chùa Thiên Long - Công viên nghĩa trang Thiên Đức (thang10/2016)

Hay ấn tượng hơn qua hình ảnh ẩn dụ của những giọt nước trước sau:

Hiếu thuận sanh ra con hiếu thuận
Ngỗ nghịch thì con có khác chi
Xem thử trước thềm mưa xối nước
Giọt sau giọt trước chẳng sai gì.

Nhờ có một nền tảng giáo dục luân lý đạo đức đặt trên cơ sở hiếu nghĩa như vậy, xã hội Việt Nam, con người Việt Nam đã xứng đáng với truyền thống:

Làm người hiếu nghĩa đi đầu
Hiếu cha hiếu mẹ việc gì không xong.

Trên nền tảng tôn thờ đạo hiếu thảo, xã hội Việt Nam có thể được xem là một xã hội chuẩn mực về đạo đức hiếu thảo và làm người. Tuy nhiên hiếu thảo theo quan niệm ca dao Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nó chủ yếu dạy con cái hiếu dưỡng song thân về mặt vật chất, và hình như không chú trọng đến yếu tố hiếu dưỡng tinh thần và đời sống đạo đức của cha mẹ, trong khi theo Phật giáo, hiếu dưỡng quan trọng hơn là hiếu dưỡng tinh thần. Ðây chính là lý do tại sao chúng ta phải tìm hiểu chữ hiếu qua những lời kinh Phật dạy.

Xêm thêm: Hiếu nghĩa vẹn tròn - Phúc hưởng thiên thu